Bệnh Nấm nông ở da (Superficial mycoses)

Bệnh nấm nông ở da (Superficial mycoses) là một trong những nhóm bệnh thường gặp nhất trong Da liễu. Tổn thương thường gặp là dát đỏ, bong vảy, viền bờ có thể có mụn nước, ranh giới rõ và ngứa. Bệnh có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào. Điều trị bằng thuốc chống nấm cần có một vài chú ý.

Nội dung chính

Đại cương bệnh nấm nông ở da

Lịch sử

Nhiễm nấm Dermatophyte được miêu tả từ thời cổ đại. Vào giữa thế kỷ 19 David Grudy cùng các tác giả khác là Remak, Schoenlein, Lebert, Malmety và Robin tiến hành các nghiên cứu chính trên nấm. Năm l865, Beigel đầu tiên miêu tả nấm Piedra sau khi phân lập từ bộ tóc giả. Những năm 90 của thế kỷ 19, Cerqueira lần đầu tiên miêu tả nấm da nigra, tên ban đầu là nấm sừng bàn chân màu đen ‘keratomicosis nigricans palmaris’. Đến năm 1890, nhiều cách miêu tả, đặt tên và phân loại nguyên nhân gây bệnh được sử dụng. Năm 1892, tác giả Raymond Sabouraud đã tạo ra môi trường nuôi cấy Sabouraud và được sử dụng đến ngày nay. Năm 1920, Hopkin và Benham mở ra các nghiên cứu thực sự về nấm trên cơ thể người.

Dịch tễ

Nấm da nigra và tóc piedra xuất hiện điển hình ở vùng khí hậu nhiệt đới, cả ở hai giới và các lứa tuổi (nhưng hay gặp hơn ở người trè). Trichosporon beigelii gây bệnh nấm tóc piedra trằng cũng được cho là nấm cơ hội. Một số nấm dermatophytes hạn chế trong địa dư (T. concentricum ở nam Thái Bình Dương và Bắc Mỹ), một số khác có thể phát hiện ở hầu hết các nơi trên thế giới (Trichophyton rubrum). Ngoài ra, các yếu tố dịch tễ như kinh tế xã hội, nghể nghiệp, không khí, thói quen sinh hoạt cũng tác động vào tỷ lệ mắc bệnh.

Nấm nông dermatophytes thường xuất hiện giai đoạn sau tuổi dậy thì. Tuy nhiên, nấm da đầu thường xuất hiện ở trẻ nhỏ trước dậy thì mà yếu tố nguy cơ là sự tiếp xúc với người trong nhà bị nấm da đầu hay nấm bàn chân hay với các yếu tố môi trường như mũ đội đầu, bàn chải, dụng cụ cắt tóc. Ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, không có sự tăng về tỷ lệ nhiễm nấm, tuy nhiên mức độ bệnh nặng và/hay tái phát hơn. Mặc dù nấm xuất hiện ở cả hai giới, nhưng nam giới thường gặp nấm bàn chân, nấm bẹn và nấm quanh móng hơn nữ giới.

Căn sinh bệnh học

Nấm nông là nhiễm nấm chỉ xâm nhập vào tổ chức sừng, ví dụ lớp sừng thuộc bì, lông, tóc và móng. Tùy vào mức độ xâm nhập của nấm và đáp ứng miễn dịch của cơ thể mà trên lâm sàng có biểu hiện viêm hạn chế hoặc viêm rõ.

Nguyên nhân từ môi trường

Hortaea werneckii (tên trước kia Exophiala werneckii) và Piedraia hortae là 2 nguyên nhân từ môi trường. H. werneckii có thể được tìm thấy trong đất và nước thải và thậm chí cả trong vòi hoa sen trong điều kiện ẩm ướt. Piedra là nhiễm nấm nông ở thân tóc. Piedra là nhiễm nấm nông ở thân tóc. Piedra thực sự là ‘đá’ và các thành phần nấm kết dính với nhau để tạo thành các nốt hoặc ‘đá’ dọc theo thân tóc. Nguồn tiếp xúc với P. hortae (Piedra đen) được cho là từ đất. Không có sự lây truyền nấm từ người sang người. T. beigelii (Piedra trắng) được lây từ môi trường. Tuy nhiên, đôi khi nấm là một phần của hệ thực vật bình thường của da.

Cách lây truyền

Nấm nông (dermatophytoses) là nhiễm nấm do 3 chủng nấm có khả năng xâm nhập và nhân lên ở trong tổ chức sừng (lông, tóc, da và móng). Do đặc tính giống nhau về sinh học, hình dạng và sinh bệnh học nên chúng được gọi tên chung là nấm dermatophytes gồm Microsporum, Trichophyton và Epidermophyton.

Nấm dermatophytes không phải là tác nhân nội sinh. Sự xâm nhập của nấm tới người theo 3 con đường lây truyền. Mặc dù nấm dermatophyte chỉ xâm nhập và gây bệnh ở lớp sừng, không hại, nhưng đôi khi nhiễm nấm mạn tính và lan rộng, gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người bệnh. Giai đoạn đầu tiên của nhiễm nấm liên quan đến việc tiếp xúc và kết dính của mầm bệnh (bào tử dạng arthroconidia) tới da.

Cơ chế

Nấm dermatophytes có khả năng sản xuất ra men keratinase (men phá vỡ chất sừng) cho phép nấm xâm nhập vào tổ chức sừng. Mannans ở thành tế bào nấm có khả năng ức chế miễn dịch. Ở nấm T. rubrum, mannans cũng có thể giảm tăng sinh của tế bào sừng dẫn đến không bị loại bỏ do quá trình bong vảy sừng. Cơ chế này cũng gây nên tình trạng viêm mạn tính của nhiễm nấm do T. rubrum. Khi nấm xâm nhập kích thích yếu tố vật chủ phản ứng lại như sản xuất các chất ức chế men proteaee, hormon dẫn đến ức chế sự xâm nhập của nấm.

Mức độ nặng lâm sàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố của cơ thể: chất bã có khả năng ức chế nấm dermatophytes, chính vì vậy mức độ hoạt động của bệnh phụ thuộc vào số lượng và hoạt động của tuyến bã tại vùng da khác nhau; phá vỡ hàng rào da hoặc tình trạng da ẩm ướt có thể tăng khả năng xâm nhập của nấm; sự nhạy cảm có thể mang tính di truyền hoặc khả năng của hệ miễn dịch chống lại nấm xâm nhập và nhân lên.

Nấm thân

Là tình trạng nhiễm nấm dermatophytes trên da ở thân mình và các chỉ ngoại trừ lông, tóc, móng và nếp gấp. Nhiễm nấm thường hạn chế ở lớp sừng thượng bì và hay gặp ở vị trí vùng da hở, tuy nhiên cũng có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào. Nấm thân gặp chủ yếu ở vùng nhiệt đới. Bất kỳ tác nhân nấm dermatophytes đều có thể gây bệnh nhưng hay gặp nhất là T. rubrum, tiếp đến là T. mentagrophytes.

tổn thương của nấm nông ở da chân
Ảnh nấm thân mình

Nấm bẹn

Là nhiễm nấm dermatophytes ở vùng bẹn và có thể lan rộng ra xung quanh lên vùng bụng và mông. Bệnh hay gặp hơn ở khí hậu nhiệt đới. Nguyên nhân hay gặp là Epidermophyton floccosum, T. rubrum và T. mentagrophytes. Nấm bẹn gặp ở cả nam và nữ, nhưng ở nam nhiều hơn. Bệnh gặp ở người béo và ra nhiều mồ hôi. Nấm bẹn thường liên quan đến nấm bàn chân.

tổn thương của nấm nông ở da vùng bẹn
Nấm bẹn hay gặp ở nam

Nấm bàn tay

Là tổn thương nấm ở kẽ ngón và lòng bàn tay. Nhiễm nấm dermatophytes ở vùng mu tay có biểu hiện lâm sàng tương tự với nấm thân. Lý do chính của sự khác nhau này là không có tuyến bã ở vùng da lòng bàn tay. Nguyên nhân hay gặp của nấm bàn tay giống như nấm bàn chân và nấm bẹn: T. rubrum, T.mentagrophytes và E. floccosum. Tuy nhiên, có 2 nấm không thuộc nấm dermatophytes là Scytalidium dimidiatum và S. hyalinum có thể gây nấm bàn tay.

Nấm râu

Là nhiễm nấm dermatophytes ở vùng có râu như mặt và cổ nam giới. Nguyên nhân hay gặp là nấm dermatophyte zoophilic: T. mentagrophyes và T. verrucosum, ít gặp hơn là M. canis hoặc T. rubrum. Ngoài ra, T. schoenleinii, T. violaceum và T. megnini có thể gặp ở một số vùng dịch tễ. Yếu tố liên quan có thể gặp như tiếp xúc động vật, sử dụng dao cao râu có thể nhiễm nấm.

Nấm da đầu

Nấm đầu hay gặp ở trẻ nhỏ. Nguyên nhân hay gặp là Trichophyton và Microsporum. Tùy theo vùng địa lý khác nhau, phân bố nguyên nhân gây bệnh cũng khác nhau, nhưng chủ yếu là T. tonsurans, M. canis, M. audouini. Một số đặc điểm lâm sàng cho nguyên nhân khác nhau: T. tonsurans gây nhiễm nấm nội sợi tóc (endothrix) và gọi là nấm đầu chấm đen ‘black dot’ do tóc bị gãy ở ngay sát da đầu; M. audouini gây nhiễm nấm ngoài sợi tóc và gọi là nấm đầu mảng xám ‘gray patch’ do có mảng tóc rụng, bong vảy, khô. Mức độ nặng trên lâm sàng phụ thuộc vào tác nhân gây bệnh và đáp ứng của cơ thể.

tổn thương của nấm nông ở da vùng đầu ở trẻ nhỏ
Nấm da đầu

Nấm bàn chân

Nấm bàn chân là nhiễm nấm dermatophytes ở vùng lòng bàn chân và kẽ ngón chân. Đối với nấm ở vùng mu bàn chân được coi như là nấm thân. Bàn chân là vị trí hay gặp nhất của nhiễm nấm. Hầu hết dân số đều từng bị nhiễm hoặc biểu hiện lâm sàng của nấm bàn chân. Bệnh hay xuất hiện ở người lớn hơn trẻ em và bị cả ở hai giới như nhau. Không có tuyến bã và môi trường ẩm khi sử dụng giầy là yếu tố quan trọng nhất trong phát triển nấm bàn chân. Các nấm dermatophytes điển hình gây nấm bàn chân gồm: T. rubrum, T. mentagrophytes, E. floccosum và T. tonsurans (ở trẻ em).

Tác nhân không phải dermatophytes khác như: S. dimidiatum và S. hyalinum (thể loang lổ và kẽ ngón) hay đôi khi là Candida (thể kẽ ngón).

tổn thương của bệnh nấm nông ở bàn chân
Nấm bàn chân

Nấm móng

Có thể là bệnh lý dai dẳng do có nhiều khó khăn trong kiểm soát: khó chẩn đoán, điều trị kéo dài, tác dụng phụ của thuốc chống nấm đường toàn thân, tỷ lệ tái phát cao, đặc biệt nấm móng chân. Bệnh xuất hiện ở nam nhiều hơn nữ và có thể kèm theo nấm bàn chân.

Nguyên nhân hay gặp là T. rubrum, T.mentagrophytes và E. floccosum (hiếm gặp hơn là Microsporum). Nấm thường xâm nhập ban đầu ở vùng giường móng, ở vị trí hyponychium dẫn đến dày sừng, màu vàng và có thể gây tách móng. Nấm tiếp đến xâm nhập sâu hơn thậm chí có thể chiếm toàn bộ móng. Biến chứng gây viêm mô bào có thể gặp sau nhiễm nấm móng đặc biệt ở người đái tháo đường hoặc suy giảm miễn dịch. Một số nấm không phải dermatophyte (Fusarium) có thể gây bệnh ở người suy giảm miễn dịch.

tổn thương của bệnh nấm nông ở móng
Nấm móng

Triệu chứng lâm sàng các bệnh nấm nông ở da

Nấm gây viêm hạn chế

Nấm tóc Piedra

Các dạng

Có hai dạng chính: Piedra đen và Piedra trắng. Chúng được phân biệt bởi sự biểu hiện trên lâm sàng và kính hiển vi. Bệnh nhân Piedra đen thường biểu hiện triệu chứng nốt màu nâu hoặc đen dọc theo thân tóc.

Xuât hiện khi tìm kiếm trên Google "Nấm ngoài da" "nấm da đầu"
Pedra đen

Nhiễm nấm thường bắt đầu dưới lớp biểu bì của sợi tóc và lan rộng ra ngoài. Tóc vỡ có thể xảy ra do vỡ nốt tại thân tóc. Khi các nốt lớn, chúng có thể bọc thân tóc. Trong nấm tóc Piedra trắng, nhiễm nấm cũng bắt đầu bên dưới lớp biều bì và phát triển thông qua thân tóc, gây suy yếu và gãy tóc. Các nốt mềm, ít dính của Piedra trắng thường màu trắng nhưng cũng có thể là màu đỏ, xanh lá cây hoặc màu nâu sáng. Tỷ lệ Piedra trắng tăng lên kể từ khi bắt đầu của đại dịch HIV.

Xuât hiện khi tìm kiếm trên Google "Nấm ngoài da" "nấm da đầu"
Piedra trắng

Ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, T. beigelii có thể gây ra nhiễm nấm hệ thống nghiêm trọng với sốt, nấm huyết, thâm nhiễm phổi, tổn thương da (sẩn mụn nước và xuất huyết, thường với hoại tử trung tâm) và bệnh thận.

Bảng so sánh piedra trắng và đen
TTĐặc điểmPiedra trắngPiedra đen
1Màu của nốt  Trắng (có thể đỏ, xanh Nâu đến đen hoặc màu sáng)   
2Mật độ của nốt  Mềm  Cứng  
3Kết dính nốt với thân tóc  Lỏng lẻo  Chắc chắn  
4Vị trí điển hình  Mặt, nách và vùng sinh dục (đôi khi vùng đầu)  Đầu, mặt (đôi khi vùng sinh dục)
5Khí hậu hay gặpÔn đớiÔn đới
6Nguyên nhânTrichosporon beigelii  Piedraia hortae  
7Soi tươi KOH  Dạng sợi với bào tử blastoconidi, arthroconidia  Sợi nấm với bào từ asci và ascospores
8Môi trường nuôi cấy Sabouraud  Khuấn lạc dạng kem, màu vàng kem, ẩm  Khuẩn lạc màu nâu đến đen
9Điều trịNhổ tóc bị nhiễm nấm, gội đầu bằng thuốc chống nấmNhổ tóc bị nhiễm nấm, gội đầu bằng thuốc chống nấm

Nấm da nigra

Sau giai đọan ủ bệnh 10 – 15 ngày, bệnh nấm da nigra thường biều hiện là một mảng hoặc dát màu nâu xám đến xanh lá cây, bờ rõ. Thường không có triệu chứng cơ năng hay ngứa. Trong khi thường xuyên nhìn thấy trên lòng bàn tay, nấm da nigra cũng có thể xuất hiện trên cổ, lòng bàn chân và thân mình. Nấm da nigra thường lớn hơn, màu nhạt hơn, không có dải dọc như bớt tế bào hắc tố ở chi. Nấm da nigra cũng có thể có màu sẫm hơn ở vùng rìa so với trung tâm. Bệnh có xu hướng mạn tính, ít tái phát sau khi điều trị hiệu quả, ngoại trừ trong trường hợp tiếp xúc lại.

Xuât hiện khi tìm kiếm trên Google "Nấm ngoài da" "nấm da nigra

Nấm gây viêm

Nấm thân (Tinea corporis)

Có nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau của nấm thân và có thể nhầm với một số biểu hiện da khác. Giống như với hầu hết các nhiễm nấm dermatophytes, mức độ của viêm phụ thuộc vào tác nhân gây bệnh và đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Ngoài ra, bởi vì nang lông là ổ cư trú của của nấm, các vùng cơ thể với nhiều nang lông hơn có thể biểu hiện phản ứng viêm rõ rệt hơn.

Ủ bệnh

Thời gian ủ bệnh thường kéo dài 1 – 3 tuần.

Tổn thương cơ bản

Nhiễm nấm lan rộng ly tâm ra xung quanh điểm xâm nhập, phần trung tâm không có tổn thương nên tạo nên hình vòng cung với kích thước khác nhau. Tuy nhiên, tổn thương có thể gặp với các hình dạng khác nhau (hình cung, hình dương xỉ, hình oval). Vảy da là tổn thương cơ bản hay gặp, nhưng có thể ít hoặc không có khi sử dụng corticosteroids (nấm ẩn danh – tinea incognito). Mụn mủ ở vùng rìa tổn thương. Mụn nước và u hạt, sùi có thể gặp trong tổn thương nấm.

Xuât hiện khi tìm kiếm trên Google "Nấm ngoài da" "nấm da"
Nấm thân

Triệu chứng cơ năng: ngứa và cảm giác rát bỏng.

Thể lâm sàng

– Nấm bùng phát (tinea profunda): hậu quả của đáp ứng viêm quá mức đối với nấm dermatophytes (giống kerion trên đầu), hình thành dạng sùi hoặc u hạt.

– U hạt Majocchi: mụn mủ hoặc u hạt quanh nang lông do T. rubrum gây nên. Thường gặp ở phụ nữ có tổn thương nấm bàn chân hoặc nấm móng, người hay cạo lông chân, người suy giảm miễn dịch. Tổn thương có thể lan rộng hoặc sùi.

– Nấm đồng tâm (tinea imbricata): tổn thương là các vòng đồng tâm tương tự như do T. concentricum gây nên.

Nấm bẹn (Tinea cruris)

Triệu chứng ban đầu thường là ban đỏ và sẩn ngứa ở vùng bẹn. Tổn thương điển hình là ban đỏ có bờ rõ, nổi cao kèm vảy da, đôi khi có mụn mủ hoặc mụn nước. Bệnh xuất hiện 1 bên và không đối xứng hoặc lan rộng sang 2 bên và đối xứng. Da bìu thường ít gặp tổn thương. Nếu gặp tổn thương ở đây kèm tổn thương trợt hoặc mụn mủ dạng vệ tinh, nhiễm nấm candida cần xác định.

Xuât hiện khi tìm kiếm trên Google "Nấm ngoài da" "nấm bẹn"
Nấm bẹn

Nấm bàn tay (Tinea manuum)

Nấm bàn chân dạng loang lổ thường xuất hiện ở bệnh nhân nấm bàn tay. Có hai biểu hiện lâm sàng là mạn tính và dày sừng. Nấm bàn tay thường không viêm và một bên (hội chứng 2 chân và 1 tay). Biểu hiện thường là tổn thương dày sừng lan tỏa ở bàn tay và ngón tay, không đáp ứng với các thuốc mềm da thông thường. Dấu hiện của nấm quanh móng có thể đi kèm và thường không bị toàn bộ các móng. Các biểu hiện khác như tróc vảy, mụn nước và mụn mủ.

Nấm râu (Tinea barbae)

Khi số lượng lớn các nang lông bị tổn thương, triệu chứng viêm, phù nề, mụn mủ, áp xe, đường dò, bội nhiễm vi khuẩn, tổn thương giống kerion có thể phát triển. Một số trường hợp xuất hiện triệu chứng toàn thân như mệt mỏi, sưng hạch hoặc rụng lông sẹo.

Thể lâm sàng nhẹ hơn như tổn thương nông, ít viêm tương tự như nấm thân do nguyên nhân chủ yếu là T. rubrum gây nên. Rụng lông thường xuất hiện ở vùng trung tâm của tổn thương, nhưng có thể hồi phục.

Nấm mặt (Tinea facial)

Vảy da, hình vòng, mụn mủ ở vùng bờ, nhưng một số khó chẩn đoán hơn.

Xuât hiện khi tìm kiếm trên Google "Nấm ngoài da" "nấm mặt"
Nấm mặt

Nấm đầu (Tinea capitis)

Biểu hiện có thể nhẹ không viêm tương tự như viêm da dầu (nguyên nhân hay gặp là T. tonsurans) đến phản ứng mụn mủ nặng kèm rụng tóc, với tên hay gọi là kerion (tầng ong). Rụng tóc có kèm hoặc không kèm vảy da. Rụng tóc có thể rải rác hoặc chiếm toàn bộ da đầu. Nhiều bệnh nhân có biểu hiện sưng hạch sau tai hoặc trước tuyến mang tai.

Kerion

Kerion là hậu quả phản ứng quá mức của cơ thể gây biểu hiện mảng mủ, ướt, kèm hình thành các ổ áp xe nhỏ và rụng tóc. Một số bệnh nhân có biểu hiện toàn thân, mệt mỏi, sưng hạch. Tóc ở vùng tổn thương có thể mọc lại, tuy nhiên khi tổn thương lâu, có thể để lại sẹo và gây rụng tóc vĩnh viên. Nếu như chẩn đoán nhầm là áp xe do vi khuẩn, hoặc nguyên nhân khác và điều trị cắt, trích, dẫn lưu với kháng sinh, bệnh có thể nặng hơn và có nguy cơ gây rụng tóc sẹo.

Nấm dermaphytes khi xâm nhập và tồn tại ở tóc theo ba hình thức, endothrix (nội sợi), ectothrix (ngoại sợi) và favus.

Dạng Endothrix

Là kết quả do nhiễm nấm anthropophilic trong họ Trichophyton gây nên. Đặc trưng bởi bào tử arthroconidia không có huỳnh quanh bên trong thân sợi tóc. Biểu hiện lâm sàng đa dạng với vảy da, mảng rụng tóc với chấm đen.

Xuât hiện khi tìm kiếm trên Google "Nấm ngoài da" "nấm tóc"
Dạng Ectothric và endothrix
Dạng Ectothrix

Xuất hiện khi arthroconidia được hình thành từ sợi nấm bên ngoài thân sợi tóc. Lớp biểu bì bên ngoài sợi tóc bị phá hủy. Nhiễm nấm Ectothrix có thể bắt màu huỳnh quang (Microsporum) hoặc không (Microsporum và Trichophyton) bằng ánh sáng đèn Wood. Biểu hiện lâm sàng đa dạng từ mảng bong vảy, hoặc mảng rụng tóc kèm viêm từ nhẹ đến nặng hình thành kerion.

Dạng Favus

Là dạng nặng nhất của nhiễm nấm Dermatophyte ở tóc. Nguyên nhân chủ yếu là do T. schoenleinii. Sợi và khoảng khí được nhìn thấy trong sợi tóc. Sử dụng đèn Wood, thấy ánh sáng huỳnh quang màu trắng hơi xanh da trời. Favus biểu hiện mảng vảy tiết màu vàng, dày chứa sợi và mảng da chết. Khi nhiễm nấm mạn tính có thể gây nên rụng tóc sẹo.

Nấm bàn chân (Tinea pedis)

Biểu hiện lâm sàng gồm 4 thể:

Thể loang lổ

Dày sừng lan tỏa, ban đỏ, bong vảy da và nứt ở 1 hoặc 2 bàn chân; thường mạn tính, hoặc có đợt cấp; có thể gặp ở người suy giảm miễn dịch.

Thể kẽ ngón

Thể hay gặp nhất; ban đỏ, bong vảy da, nứt và chảy nước ở vùng kẽ; kèm bội nhiễm vi khuẩn; ngứa; có thể lan lên vùng mu chân.

Thể viêm

Mụn nước và bọng nước ở vùng giữa bàn chân; liên quan đến phản ứng Dermatophytid.

Thể loét

Bùng phát của nấm ở kẽ ngón chân; trợt và loét ở vùng kẽ; bội nhiễm vi khuẩn; gặp ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch hoặc đái đường.

Biểu hiện kèm theo có thể gặp ở nấm bàn chân là bội nhiễm vi khuẩn, phản ứng nấm Dermatophytid, viêm mô bào, viêm tủy xương.

Nấm móng (Tinea unguium – onychomycosis)

Do nấm dermatophytes hoặc không phải dermatophytes gây nên. Triệu chứng cơ năng như khó hoặc đau khi lại, chạy. Nấm móng chân hay gặp hơn nấm móng tay và hiếm khi chỉ gặp nấm móng tay mà không gặp nấm móng chân. Tổn thương có thể gặp 1 móng hoặc nhiều móng, một bên hoặc cả hai bên. Biểu hiện nấm móng chân do Dermatophytes được chia thành 3 biểu hiện theo vị trí xâm nhập của nấm vào móng:

– Nấm dưới móng ở bờ bên và bờ xa với sự xâm nhập của nấm từ vùng hyponychium (vị trí hay gặp nhất).

– Nấm nông trắng do xâm nhập trực tiếp vào bề mặt của bản móng (thường do T.mentagrophytes).

– Nấm bờ gần do xâm nhập trực tiếp nấm vào dưới của bờ gần móng (hay gặp ở người suy giảm miễn dịch).

Xuât hiện khi tìm kiếm trên Google "Nấm ngoài da" "nấm móng tay"
Nấm móng tay

Dưới 10% nấm móng là do nấm men hoặc nấm không phải Dermatophytes. Thay đổi màu sắc móng thường không phải do Dermatophytes.

Teo móng có thể do một số rối loạn khác (chấn thương, vảy nến và rối loạn bẩm sinh), nhưng 50% teo móng là do nấm móng gây nên. Candida là chủng nấm hay gặp nhất gây viêm quanh móng và gây biến đổi móng. Móng tay thường bị ảnh hưởng với biểu hiện đường lằn, móng có màu vàng, tách móng. Trong bệnh candida da, niêm mạc, móng cũng có thể bị tổn thương.

Xét nghiệm trong bệnh nấm nông ở da

Đèn Wood

Có giá trị trong một số trường hợp như lang ben (trắng vàng), một số nấm da đầu (xanh) và chẩn đoán phân biệt với erythrasma (màu đỏ đồng).

Soi tươi

Bệnh phẩm là vảy da, tóc hoặc móng. Soi tươi trực tiếp trong KOH 10% (nấm da) và 30% (nấm tóc và móng), có thể sử dụng với mực xanh. Kết hợp nhuộm với màu cam acridin, màu trắng calcofluor và blankopho và sử dụng kính hiển vi huỳnh quang phát hiện polysaccharide của thành tế bào nấm. Trên tiêu bản soi tươi trực tiếp thấy hình ảnh sợi nấm chia đốt và phân nhánh.

bệnh phẩm xét nghiệm trong bệnh bệnh nấm nông ở da
Soi tươi KOH thấy sợi nấm

Nuôi cấy

Môi trường cơ bản là Sabouraud. Thời gian nuôi cấy dương tính trong 7-14 ngày và thời gian kết luận âm tính là 21 ngày.

Sinh thiết

Thường ít được chỉ định trong chẩn đoán nấm nông. Trên tiêu bản sinh thiết thấy sợi nấm ở lớp sừng: nấm dễ được phát hiện hơn bằng nhuộm PAS hoặc thấm bạc.

Nấm dermatophytes ở vùng da không lông thấy biểu hiện xốp bào (spongiosis) và mụn mủ, thay đổi viêm mạn tính (dày sừng và á sừng). Đối với nấm móng, sợi nấm và bào tử arthroconidia có thể gặp ở bản móng và giường móng khi nhuộm PAS, kèm theo ít hoặc không có hiện tượng viêm. Sinh thiết nấm đầu, u hạt Majocchi và nấm râu có biểu hiện sợi hoặc bào tử arthroconidia trong thân sợi nấm.

Chẩn đoán bệnh nấm nông ở da

Chẩn đoán xác định

Tổn thương da dát đỏ hoặc mảng đỏ, hình tròn, cung, đa cung, kèm vảy da, mụn nước hoặc mụn mủ vùng rìa.

Soi tươi thấy hình ảnh sợi nấm chia đốt, phân nhánh.

Nuôi cấy nấm và phân lập.

Chẩn đoán phân biệt

Nấm da Nigra

Phân biệt với: bớt tế bào hắc tố ở cực, hồng ban cố định nhiễm sắc, tăng sắc tố sau viêm, do hóa chất dính vào da gây tăng sắc tố.

Nấm tóc Piedra

Phân biệt với: chấy, gãy tóc, tóc nốt (trichorrhexis nodosa), vảy da của vảy nến và chàm, rận mu.

Nấm thân

Phân biệt với: chàm đồng tiền, viêm da cơ địa, viêm da ứ trệ, viêm da tiếp xúc, viêm da dầu, lang ben, vảy phấn hồng Gilbert, á vảy nến, hồng ban nhẫn ly tâm, vảy nến thể đồng tiền, lupus ban đỏ bán cấp, u hạt, chốc.

Nấm bẹn

Phân biệt với: Candida da, chốc, viêm da dầu, vảy nến, erythrasma, viêm da tiếp xúc. Lichen đơn dạng mạn tính, mycosis fungoides, bệnh Hailey-Hailey, bệnh mô tế bào Langerhans.

Nấm mặt

Phân biệt với: viêm da dầu, viêm da quanh miệng, viêm da tiếp xúc, rosacea, lupus ban đỏ, trứng cá, vảy nến đồng tiền (trẻ nhỏ).

Nấm đầu

Phân biệt với: viêm da dầu, rụng tóc thể mảng, tật nhổ tóc (Trichotillomania), vảy nến, viêm da mủ, viêm nang lông, lichen phẳng, lupus đỏ dạng đĩa, viêm nang lông phá hủy, rụng tóc thể sẹo ly tâm.

Nấm chân

Phân biệt với: tổ đỉa, viêm da tiếp xúc, vảy nến, giang mai II, erythrasma, nhiễm khuẩn.

Nấm bàn tay

Phân biệt với: vảy nến, tổ đỉa, phản ứng nấm “dermatophytid”.

Nấm râu

Phân biệt với: viêm nang lông vi khuân, virus (herpes simplex hoặc zona), trứng cá thông thường, actinomycose vùng mặt cổ, vết dò từ viêm chân răng, rụng râu xuất hiện ở vùng trung tâm tổn thương và có thể hồi phục.

Nấm móng

Phân biệt với: viêm da tiếp xúc kích ứng, lichen phẳng, ung thư tê bào hắc tố, vảy nến, chấn thương móng.

Điều trị bệnh nấm nông ở da

Nấm tóc piedra

Nhổ tóc có tổn thương nốt cùng với gội đầu bằng dầu gội ketoconazol 2%. Terbinafin uống có hiệu quả.

Nấm tinea nigra

Các chất tan sừng như mỡ whitfied (6% acid benzoic và 3% acid Salicylic) và thuốc chống nấm tại chỗ (azole và allylamine) có tác dụng. Điều trị vài tuần để ngăn tái phát. Điều trị nấm hệ thống không cần thiết và griseofulvin không hiệu quả trong điều trị.

Nấm Dermatophytes

Điều trị tại chỗ có hiệu quả đối với nhiễm nẩm tại chỗ nói chung như nấm thân, nấm bẹn, và nấm bàn chân. Thuốc chống nấm toàn thân có thể cần thiết trong điều trị nhiễm nấm như nấm bàn tay, nấm đầu và nấm móng.

Một số chế phẩm như acid glycolic, lactic hoặc urea có thể giúp làm giảm dày sừng trong nhiễm nấm bàn tay và nấm bàn chân. Làm sạch vảy tiết, cắt râu ở vùng bị tổn thương kết hợp với điều trị thuốc chống nấm toàn thân có tác dụng tốt trong điều trị nấm râu.

Cần ngăn ngừa tái phát bằng các biện pháp: mặc quần rộng, làm khô sau khi tắm, giảm cân đối với người béo phì, là quần, áo hoặc ga giường, sử dụng bột làm khô tại chỗ, phát hiện và điều trị nấm ở vị trí khác.

Điều trị nấm Dermatophyte bằng thuốc chống nấm toàn thân:

Nấm bàn chân (loang lổ), nấm bàn tay

Người lớn:

– Fluconazol: 150-200 mg/tuần x 4-6 tuần.

– Griseofulvin: 500-1000 mg/ngày (hoặc hơn) x 4 tuần.

– Itraconazol: 400 mg/ngày x 1 tuân.

– Terbinafin: 250 mg/ngày x 2 tuần.

Trẻ em:

– Fluconazol: 6 mg/kg/tuần x 4-6 tuần.

– Griseofulvin: 15-20 mg/kg/ngày x 4 tuần.

– Itraconazol: 5 mg/kg/ngày x 1 tuần.

– Terbinafin: liều hàng ngày giống nấm đầu x 2 tuần.

Nấm móng (người lớn), móng chân có hoặc không kèm móng tay

Fluconazol: 150-200 mg/tuần x 9 tháng.

Griseofulvin: 1-2 g/ngày cho tới khi móng trở nên bình thường.

Itraconazol: 200 mg/ngày x 12 tuần hoặc 200 mg x 2 lần/ngày x 1 tuần/tháng trong 3-4 tháng liên tiếp.

Terbinafin: 250 mg/ngày x 12 tuần hoặc 250 mg/ngày x 4 tuần, nghỉ 4 tuần, điều trị tiếp 4 tuần.

Nấm móng (người lớn), chỉ có nấm móng tay

– Fluconazol: 150-200 mg/tuần x 6 tháng.

– Griseofulvin 1-2 g/ngày cho tới khi móng trở nên bình thường.

– Itraconazol: 200 mg/ngày x 6 tuần hoặc 200 mg x 2 lần/ngày x l tuần/tháng trong 2 tháng liên tiếp.

– Terbinafin: 250 mg/ngày x 6 tuần.

– Fluconazol: 6 mg/kg/tuần x 12-16 tuần (móng tay) hoặc 18-26 tuần (móng – chân),

Nấm móng (trẻ em)

– Griseo fulvin: 20 mng/kg/ngày cho tới khi móng trở về bình thường.

– Itraconazol: 5 mg/kg/ngày (< 20 kg), 100 mg/ngày (20-40 kg), 200mg/ngày (40-50 kg), hoặc 200 mg x 2 lần/ngày (> 50 kg) x1 tuần/tháng trong 2 tháng liên tiếp (móng tay) hoặc 3 tháng liên tiếp (móng chân).

– Terbinafin: 62,5 mg/ngày (< 20 kg), 125 mg/ngày (20-40 kg) hoặc 250mg/ngày (> 40 kg) x 6 tuần (móng tay) hoặc 12 tuần (móng chân).

Nấm thân (lan rộng, người lớn)

Fluconazol: 150-200 mg/tuần x 2-4 tuần.

Griseofulvin: 10-20 mg/kg/ngày x 2-4 tuần.

Itraconazol: 200 mg/ngày x 1 tuần.

Terbinafin: 250 mg/ngày x 1 tuần.

Nấm thân (lan rộng, trẻ em)

Fluconazol: 6 mg/kg/tuân x 2-4 tuần.

Griseo fulvin: 15-20 mg/kg/ngày x 2-4 tuẩn.

Itraconazol: 5 mg/kg/ngày x 1 tuần.

Terbinafin: liều hàng ngày giống nấm đầu x 1 tuần.

Nấm đầu

Người lớn:

Fluconazol: 6 mg/kg/ngày x 3-6 tuần.

Griseofulvin: 20 mg/kg/ngày x 6-8 tuần.

Itraconazol: 5 mg/kg/ngày x 4-8 tuần.

Terbinafin: 250 mg/ngày x 2-4 tuần.

Trẻ em:

Fluconazol: 6 mg/kg/ngày x 6 tuần.

Griseofulvin: 20-2.5 mg/kg/ngày x 6-8 tuần.

Itraconazol: 3-5 mg/kg/ngày x6 tuần.

Terbinafin: 62,5 mg/ngày (< 20 kg), 125 mg/ngày (20-40 kg) hoặc 250mg/ngày (>40 kg) x 2-6 tuần.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *